Lâu nay trang báo qdnd.vn (Quân đội nhân dân) rất hay có những bài chính luận của những cây bút sừng sỏ khoác áo lính như thượng tướngNguyễn Huy Hiệu, trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn,thiếu tá Nguyễn Văn Minhvv... Rất đáng tiếc, khi những bài báo của những sĩ quan, tướng tá này được đăng trên qdnd.vn thì chúng đều bị dư luận bóc mẽ tơi tả…
Có lẽ vì vậy hôm qua, 07/03/2013 trang qdnd.vn đã chỉ dùng một nick name là Thiện Văn làm bút danh cho bài viết “Không thể có tự do báo chí không giới hạn”. Đây lại là một bài báo thể hiện một nhãn quan và tư duy rất lệch lạc về báo chí tự do.
Tự do nghĩa là gì? Theo nghĩa nguyên thủy, tự do tức là một người có quyền làm bất cứ điều gì
mình muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào. Nhưng để tránh bị lạm dụng khi một người thực hiện quyền tự do của mình mà làm phương hại đến quyền tự do của người khác, người ta sinh ra pháp luật để điều chỉnh sự tự do trong giới hạn với mục đích là bảo vệ quyền tự do cho các đối tượng khác, chứ không mang mục đích hạn chế quyền tự do chính đáng.
Như vậy thì tự do báo chí thực chất là cụ thể hóa quyền tự do ngôn luận và quyền được thu thập, phổ biến thông tin, nghĩa là mọi người có quyền tự do dùng báo chí phổ biến mọi tin tức, chính kiến, ý kiến, quan điểm, cảm xúc vv.., trên mặt báo, miễn là thông tin đó phải trung thực và không phương hại đến quyền tự do của các chủ thể khác. Nhưng trước hết, báo chí phải được quyền tự do xuất bản, tức là báo chí tư nhân có quyền hoạt động bình đẳng với báo chí nhà nước.
Trong bài “Không thể có báo chí tự do không giới hạn” tác giả Thiện Văn đưa ra một nhận định hết sức bàng quan và sai sự thật: “Trong quá trình góp ý xây dựng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, một số người đòi hỏi Việt Nam phải có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí “không nhất thiết phải theo quy định của pháp luật” và tư nhân được quyền ra báo, xuất bản. Đây là kiến nghị không những không phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế ở Việt Nam, mà còn ẩn chứa nhiều mưu toan, ý đồ thiếu thiện chí.” Tuy không đưa ra được dẫn chứng nào, rằng ai đã nói câu “không nhất thiết phải theo quy định của pháp luật”, nhưng rõ ràng đây là một câu nói không ai nghe được vì một khi đã có pháp luật thì cứ theo luật mà làm, nếu ghi thêm “theo quy định của pháp luật” thì đó là một câu hoàn toàn thừa…
Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Quốc hội thuộc ĐCSVN cụm từ “theo quy định của pháp luật” trở nên lạc lõng và mâu thuẫn, vì bản thân hiến pháp đã là đạo luật nền tảng căn bản nhất của hệ thống pháp luật rồi, nhưng chính nó lại còn phải “theo quy định của pháp luật” nữa thì rõ ràng là sự giẫm chân lên nhau. Người ta có quyền hiểu rằng, ngoài hiến pháp còn có một thứ “pháp luật không hiến pháp” khác nữa.
Theo tác giả Thiện Văn, “Đây là kiến nghị không phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế ở Việt Nam.”Tình hình thực tế ở Việt Nam là gì? Quyền tiếp cận thông tin là mối quan tâm hàng đầu của quốc tế. Tại Liên hợp quốc, trong phiên họp đầu tiên năm 1948, LHQ đã thông qua Nghị quyết số 59, trong đó viết:“tự do thông tin là quyền con người cơ bản và là nền tảng của tất cả các quyền tự do khác…” Trong Hiến pháp 1992 tại Chương V về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cụ thể trong Điều 69 có ghi rõ nội dung: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.” Như vậy kiến nghị sửa đổi Hiến pháp theo hướng tư nhân có quyền tự do hoạt động báo chí là hoàn toàn phù hợp với chính hiến pháp hiện hành.
Về nội dung tự do báo chí, bản thân tác giả Thiện văn cũng đã từng có bài viết trên trang qdnd.vn:“Bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc” trong đó người này nêu dẫn chứng tại Hội nghị của Hội nhà báo Việt Nam góp ý sửa đổi Hiến pháp:“Báo chí là một bộ phận quan trọng của xã hội, là mũi nhọn trong công tác tuyên truyền và “vũ khí sắc bén” của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa.” Liệu có còn tự do báo chí hay không, khi báo chí chỉ là ‘vũ khí sắc bén” của Đảng và nhà nước? Người ta có thể lấy “vũ khí sắc bén” nào đây cho nhân dân sử dụng, ngoài báo chí tư nhân?
Theo hiến định, Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Vì vậy chắc chắn rằng ĐCSVN, nhà nước, nhân dân là ba chủ thể khác nhau. Đảng và nhà nước thì đều là một, vì nhà nước là của đảng (100% là đảng viên ĐCSVN giữ các vị trí lãnh đạo). Người ta chỉ thấy báo đảng, báo nhà nước (quốc doanh), tuyệt nhiên chưa thấy báo tư nhân (nhân dân) được phép hoạt động. Như vậy rõ ràng là Việt Nam chưa có tự do báo chí. Sẽ là kệch cỡm và khôi hài nếu như nhắc đến “giới hạn pháp luật” của một hoạt động, khi thực ra vấn đề đó chưa có bất kỳ một hoạt động thực tiễn nào được pháp luật thừa nhận.
Đối với quan điểm “quyền tự do báo chí không phụ thuộc vào báo chí tư nhân” của tác giả Thiện Văn, chúng ta trở lại với vấn đề tự do ngôn luận, giả sử một người hay một nhóm người trong dân chúng muốn đưa tiếng nói của mình ra trước công luận theo quyền tự do ngôn luận đã hiến định, sẽ đảm bảo tính thời sự và trung thực của họ nếu họ có phương tiện trong tay. Theo thực tế đó thì người dân sẽ phải thông qua báo chí nhà nước để phát hành tiếng nói của mình. Nhưng ngay cả nhiều các bài báo của phóng viên ăn lương nhà nước hẳn hoi còn bị gỡ lên gỡ xuống, nếu thông tin của người dân nằm ngoài sự “định hướng” của ĐCSVN thì liệu nó có được đăng tải hay không?
Đối với chuyện “quyền tự do báo chí phải được đảm bảo bằng pháp luật” như Thiện Văn đề cập là thừa, vì một khi pháp luật sinh ra để nhằm bảo vệ nhân dân và tổ quốc thì đương nhiên pháp luật đã tự do hóa các quyền căn bản của con người trên cơ sở luật hóa sự bảo vệ các quyền ấy, trong đó có quyền tự do báo chí. Mọi lý luận xung quanh vấn đề rất giản đơn ấy chắc chắn chỉ là màn hỏa mù làm che mắt nhân dân mà thôi.
Vấn đề là ở chỗ, cần luật hóa các quyền đã được hiến định chứ không phải là bằng trò hề “sửa hiến pháp”. Hiến pháp 1992 đã quy định rất rõ:“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Như vậy chẳng cần phải sửa chữa làm chi cho mất công. Có chăng chỉ cần bỏ cụm từ “theo quy định của pháp luật” là đủ. Hoặc nếu coi hiến pháp không nằm trong hệ thống pháp luật thì trong phần mở đầu của Hiến pháp sửa đổi lần này cần ghi rõ “Hiến pháp này không nằm trong hệ thống pháp luật” cho nó đỡ hài hước…
Nói một cách hơi sâu cay một tý, nếu sửa hiến pháp, thậm chí ghi rõ vào trong đó “nhân dân là cụ nội ĐCSVN” nhưng không được cụ thể hóa bằng các bộ luật như Bộ luật hình sự, Luật dân sự vv.., và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì điều đã ghi trong hiến pháp đó cũng chỉ là giấy lộn. Cả dân tộc Việt Nam đang tiếp tục bị lừa dối bằng trò khỉ “sửa đổi hiến pháp”. Ta hãy thử hình dung xem, nếu như áp dụng nguyên văn hiến pháp của Hoa Kỳ - một bản hiến pháp được coi là văn minh nhất thế giới, vào Việt Nam – nhưng ĐCSVN vẫn độc quyền lãnh đạo đất nước thì có khác chi chuyện hiến pháp quy định quyền biểu tình nhưng hễ biểu tình là bị bắt bớ, đàn áp, tù đày?
Xin nhắc lại: Sẽ là kệch cỡm và khôi hài nếu như nhắc đến “giới hạn pháp luật” của một hoạt động, khi thực ra vấn đề đó chưa có bất kỳ một hoạt động thực tiễn nào được pháp luật thừa nhận. Có lẽ nên xếp Báo quân đội nhân dân (www.qdnd.vn) vào top những tờ bào hài hước nhất trong làng báo tiếng Việt vì đã có nhiều bài chính luận hết sức phi chính luận!
Tấn Hà
Nguồn Diễn đàn CTM
__________________________
__________________________
Không thể có tự do báo chí không giói hạn
QĐND - Chủ Nhật, 07/04/2013, 21:17 (GMT+7)
QĐND - Trong quá trình góp ý xây dựng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, một số người đòi hỏi Việt Nam phải có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí “không nhất thiết phải theo quy định của pháp luật” và tư nhân được quyền ra báo, xuất bản. Đây là kiến nghị không những không phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế ở Việt Nam, mà còn ẩn chứa nhiều mưu toan, ý đồ thiếu thiện chí.
Đừng ảo tưởng về “ tự do báo chí tuyệt đối”!
“Tự do báo chí” là vấn đề không mới, nhưng rất nhạy cảm đối với mỗi quốc gia dân tộc. Thời gian gần đây, có một nhóm người đòi hỏi Việt Nam phải có tự do ngôn luận, tự do báo chí không giới hạn, tự do sử dụng internet mà “không cần kiểm soát bởi Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam”. Họ cho rằng, thế mới là một nền “tự do báo chí ưu việt” như các nước phát triển và hơn thế, để Việt Nam không bị xem là “một quốc gia bóp nghẹt tự do báo chí” và là “kẻ thù của internet”(!).
Đừng ảo tưởng về “ tự do báo chí tuyệt đối”!
“Tự do báo chí” là vấn đề không mới, nhưng rất nhạy cảm đối với mỗi quốc gia dân tộc. Thời gian gần đây, có một nhóm người đòi hỏi Việt Nam phải có tự do ngôn luận, tự do báo chí không giới hạn, tự do sử dụng internet mà “không cần kiểm soát bởi Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam”. Họ cho rằng, thế mới là một nền “tự do báo chí ưu việt” như các nước phát triển và hơn thế, để Việt Nam không bị xem là “một quốc gia bóp nghẹt tự do báo chí” và là “kẻ thù của internet”(!).
Khi đưa ra kiến nghị trên đây, hình như các “nhà dân chủ” đang bị “lóa mắt” và “ảo tưởng” về một “chân trời tự do báo chí tuyệt đối”! Trên thực tế, không có bất cứ quốc gia nào có nền báo chí tự do tuyệt đối, mà báo chí đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc, luật lệ, chế tài nhất định của luật pháp và chính quyền. PGS,TS Nguyễn Văn Dững, Trưởng khoa Báo chí (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), người đã dành nhiều thời gian nghiên cứu lịch sử báo chí thế giới, cho biết: Mỹ là một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới, nên một số người viện dẫn tự do báo chí của quốc gia này như là một mẫu hình lý tưởng. Nhưng ngay từ khi ra đời, thời kỳ lịch sử nước Mỹ thuộc Anh, báo chí phải được cấp phép và chịu sự kiểm duyệt gắt gao trước khi xuất bản. Mặc dù Quốc hội Mỹ không được phép ra văn bản hạn chế tự do báo chí, nhưng kể từ năm 1787 đến nay, tòa án tối cao và chính quyền các bang của Mỹ đã ban hành hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật làm công cụ điều phối và kiểm soát tự do thông tin. Mặt khác, báo chí ở Mỹ bị chi phối bởi các tập đoàn truyền thông và quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền. Thế nên, đừng lầm tưởng và ảo tưởng là Mỹ có nền báo chí tự do vô hạn độ hay “tự do hoàn hảo”.
Nói về tự do báo chí “không giới hạn”, không thể không nhắc lại những “vụ điển hình” làm rúng động dư luận thế giới thời gian qua như: Vụ họa sĩ Đan Mạch vẽ tranh biếm họa về nhà tiên tri Mô-ha-mét; vụ một mục sư đạo Tin lành Mỹ đòi đốt kinh Cô-ran; vụ việc lính Mỹ đốt kinh Cô-ran ở Áp-ga-ni-xtan… Những vụ việc “quá trớn” này đã làm dư luận phản ứng dữ dội, thậm chí có nơi biến thành bạo loạn xã hội. Nhưng “đình đám nhất” phải kể đến vụ bê bối của tờ News of the World (Tin thế giới). Tháng 7-2011, tờ báo “lá cải” lớn nhất nước Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm “làm mưa, làm gió” trên thương trường báo chí quốc tế do nhiều phóng viên bản báo bị cáo buộc là đã nghe lén điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Chả thế mà ông Nick Clegg, đương kim Phó thủ tướng nước Anh từng phải lên tiếng: Báo chí cần tự do để kiểm soát việc lạm dụng quyền lực của các chính trị gia và của xã hội nói chung, nhưng báo chí cũng không được phép lạm dụng quyền lực của họ!
Tự do báo chí không phụ thuộc vào “báo chí tư nhân”
Một số người “lập luận” rằng, phải cho tư nhân có quyền xuất bản báo, tạp chí thì mới bảo đảm quyền “tự do báo chí đích thực”. Bởi theo họ, xã hội dân chủ là một xã hội mà công dân được phép làm tất cả những gì mang lại lợi ích cho họ, trong đó có quyền được ra báo để có tiếng nói độc lập, có thông tin tự do hoàn toàn, có quyền “phản biện xã hội” thoải mái… như một số nước phát triển!
Đề cập đến vấn đề này, ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại (Bộ Thông tin và Truyền thông), người từng tham gia nhiều cuộc trao đổi, đối thoại cởi mở, thẳng thắn với một số tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn tìm hiểu về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, cho rằng: Nhận định, đánh giá như vậy là phiến diện, thiếu quan điểm thực tiễn. Vì mỗi đất nước, mỗi quốc gia dân tộc đều có đặc điểm lịch sử và chế độ chính trị khác nhau. Thực tế ở Việt Nam không có báo chí tư nhân, nhưng hầu hết các ban, bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, các giai cấp, tầng lớp, các hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các giới, các thành phần trong xã hội đều có tờ báo, tạp chí, bản tin của mình. Mỗi công dân Việt Nam khi tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ chức nào thì đều có ấn phẩm báo chí của tổ chức đó bảo đảm quyền được thông tin của mình.
Cùng chung quan điểm đó, ông Hà Minh Huệ, Phó chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam, khi trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã khẳng định: Một nền báo chí có được xem là tự do hay không trước hết phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, bản chất, mục đích hoạt động của nó. Ở Việt Nam, một nền báo chí có chức năng, mục đích “Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện tự do ngôn luận của các tầng lớp nhân dân” đã được quy định rõ ràng tại Điều 6, Luật Báo chí năm 1989, không thể nói là nền báo chí ấy không phải của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, Việt Nam không cần báo chí tư nhân nhưng mọi người dân vẫn được đáp ứng và hưởng thụ nhu cầu thông tin về tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống, về mọi mặt tình hình của đất nước và thế giới.
Quyền tự do báo chí phải được bảo đảm bằng pháp luật
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản của con người luôn được Đảng, Nhà nước ta xem là một thuộc tính, một bản chất của chế độ ta. Vì vậy, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Điều 10 đã ghi rõ: “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận”. Điều 15, Hiến pháp năm 1959 bổ sung: “Công dân nước Việt Nam có các quyền tự do ngôn luận, báo chí”. Điều 67, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí”. Cùng với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Điều 69, Hiến pháp năm 1992 bổ sung: Công dân có quyền được thông tin. Kế thừa nội dung các bản Hiến pháp trước, Điều 26 thuộc Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, trên phương diện pháp lý, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ khi ra đời đến nay đều khẳng định nhất quán, trước sau như một quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Nếu như một số quyền khác của con người được đề cập, bổ sung, phát triển ở các bản Hiến pháp sau này, thì quyền tự do báo chí đã được Nhà nước ta thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm ngay sau khi chế độ dân chủ và chính quyền nhân dân được xác lập. Điều này như một minh chứng sinh động để khẳng định Nhà nước ta từ khi ra đời đến nay chưa bao giờ xem nhẹ hay ngăn cản quyền tự do báo chí chân chính của nhân dân.
Theo Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn, việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được gắn liền với các quy định của pháp luật. Không thể có tự do báo chí trừu tượng, chung chung và cũng không thể lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận để đi ngược lại lợi ích quốc gia dân tộc và lợi ích của nhân dân. Nhà báo trước hết là một công dân. Nếu nhà báo vi phạm pháp luật cũng phải bị xử lý như các công dân khác phạm pháp. Còn ai cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để bày tỏ công khai chống Đảng, Nhà nước, xâm hại lợi ích quốc gia dân tộc, xâm phạm lợi ích của tổ chức và công dân đều phải bị xử lý nghiêm minh. Đó là biểu thị sự công bằng, bình đẳng của pháp luật, chứ không phải là sự “bóp nghẹt tự do báo chí, thủ tiêu tự do ngôn luận” như một số thế lực phản động và những người thiếu thiện chí từng rêu rao. Điều 2, Luật Báo chí năm 1989 đã quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nội dung “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” (năm 1948) của Liên hợp quốc đã được khẳng định tại Điều 29: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng, không thể có đổi mới, dân chủ và phát triển nếu không tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của nhân dân. Vì đó không chỉ là một trong những quyền cơ bản của con người, mà còn là một trong những động lực quan trọng để mở rộng, phát huy dân chủ-một nguồn lực nội sinh góp phần thúc đẩy đất nước phát triển bền vững.
THIỆN VĂN
Nguồn Báo QĐND
Nguồn Báo QĐND


0 nhận xét:
Đăng nhận xét